Lý thuyết gắn bó ở người lớn

Thuyết gắn bó (attachment theory) là thuyết tâm lý học giải thích sự gắn bó về tình cảm trong các mối quan hệ, đặc biệt là những mối quan hệ thân thiết như giữa bố mẹ – con cái hay cặp đôi. Lý thuyết này giúp bạn xác định phong cách mình đang tương tác với những người thân xung quanh (bố mẹ, người yêu, vợ/chồng); nó đem lại thuận lơi, khó khăn gì; lý giải cơ chế hình thành và gợi ý bạn giải pháp để duy trì hoặc cải thiện tình trạng hiện tại.

Lý thuyết gắn bóThuyết gắn bó ở người lớn được phát triển dựa trên lý thuyết gắn bó ở trẻ em được đề xuất bởi John Bowlby (1907-1990), một nhà phân tâm học người Anh. Vào những năm 1930, ông đang làm bác sỹ tâm thần tại một phòng khám trẻ em ở London và cố gắng tìm hiểu nỗi đau khổ của những đứa trẻ bị chia cắt khỏi cha mẹ của chúng. Ông thấy rằng những đứa trẻ bị chia cắt sẽ có những khoảng thời gian dài bất thường (khóc, bám víu hoặc điên cuồng tìm kiếm) để ngăn cản sự xa cách với cha mẹ của chúng hoặc để thiết lập lại sự gần gũi (R. Chris Fraley, 2018). Từ những quan sát đó, ông cho rằng sự gắn bó mẹ con có ý nghĩa quyết định sự phát triển bình thường của trẻ. Việc thiếu gắn bó này sẽ dẫn tới sự chống đối, sợ hãi ở trẻ và trong một số trường hợp  gây ra những rối loạn trầm trọng về cảm xúc, hành vi (Trương Thị Khánh Hà, 2015).

Dựa trên quan điểm tiến hóa, Bowlby cho rằng nhu cầu gắn bó đã có sẵn trong gen của chúng ta, là một phần không thể thiếu trong hành vi của con người trong suốt cuộc đời mình (Levine & Heller, 2020). Ngay từ khi sinh ra, đứa trẻ đã không thể tự ăn hoặc tự bảo vệ mình, chúng phụ thuộc vào sự chăm sóc và bảo vệ của cha mẹ (trong nhiều trường hợp từ cha mẹ có thể thay bằng từ ông, bà…, người nuôi dưỡng trẻ). Bowlby lập luận rằng, trong suốt quá trình lịch sử tiến hóa, những trẻ sơ sinh có thể duy trì sự gần gũi với một nhân vật gắn kết thông qua các hành vi gắn bó sẽ có nhiều khả năng sống sót đến độ tuổi sinh sản hơn. Theo ông một hệ thống hành vi gắn bó dần dần được “hình thành” bởi chọn lọc tự nhiên để điều chỉnh sự gần gũi với cha mẹ (R. Chris Fraley, 2018). Nếu cha mẹ luôn ở gần và xuất hiện khi trẻ cần thì chúng cảm thấy được yêu thương, an toàn, tự tin, và về mặt hành vi, có khả năng khám phá môi trường của mình, hòa đồng với những người khác. Ngược lại, đứa trẻ sẽ cảm thấy lo lắng và thể hiện các hành vi như gào khóc, cố gắng gây chú ý hoặc cố tỏ ra bình tĩnh, không quan tâm… Trẻ sẽ duy trì những hành vi này cho đến khi chúng có thể thiết lập lại mức độ gần gũi về thể chất hoặc tâm lý với hình ảnh gắn bó, hoặc cho đến khi đứa trẻ “mệt mỏi”, trong bối cảnh bị chia cắt hoặc mất mát kéo dài. Trong những trường hợp như vậy, Bowlby tin rằng trẻ đã trải qua sự tuyệt vọng sâu sắc. Những tổn thương đó sẽ vẫn ở trong chúng cho đến lúc trưởng thành và có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến các mối quan hệ sau này, đặc biệt là các mối quan hệ thân thiết.

Các kiểu gắn bó ở trẻ em

Mary Ainsworth (1913 – 1999), đồng nghiệp của Bowlby, đã phát hiện ra ba cách khác nhau mà trong đó trẻ sơ sinh và trẻ mới biết đi gắn bó với mẹ của chúng là: An toàn (secure), lo âu-anxious  và né tránh-avoidant (hoặc xa lánh-dissmsive). Cô đã thực hiện một thí nghiệm nổi tiếng được đặt tên là tình huống kỳ lạ. Trong một tình huống kỳ lạ, trẻ sơ sinh 12 tháng tuổi và mẹ của chúng được đưa đến phòng thí nghiệm, một cách có hệ thống, tách biệt và đoàn tụ với nhau.

Trẻ sơ sinh với kiểu gắn bó an toàn có thể coi mẹ của chúng như là một cơ sở an toàn để khám phá môi trường, học hỏi và phát triển cũng như là nơi đem lại sự thoải mái, vỗ về khi chúng buồn bã, mệt mỏi. Những đứa trẻ này cũng lo lắng, buồn bã khi mẹ rời khỏi phòng nhưng khi mẹ trở về, chúng rất vui và háo hức. Và khi đã an toàn với sự hiện diện của mẹ, trẻ nhanh chóng được trấn an, bình tĩnh trở lại và tiếp tục hoạt động chơi. Hầu hết trẻ em (chiếm khoảng 50-60%) thuộc vào kiểu gắn bó này.

Những đứa trẻ có kiểu gắn bó lo âu (chiếm khoảng 20%) sẽ vô cùng lo lắng và buồn bã khi mẹ rời khỏi phòng. Lúc mẹ trở về, trẻ phản ứng một cách mâu thuẫn. Trẻ vui khi thấy mẹ nhưng đồng thời lại tức giận. Chúng mất nhiều thời gian hơn để bình tĩnh lại và ngay cả khi trẻ bình tĩnh lại thì đó cũng chỉ là tạm thời. Ngay sau đó, trẻ có thể sẽ giận giữ đẩy mẹ ra, quằn quại và òa khóc. Những đứa trẻ từng trải nghiệm nỗi đau chia ly hoặc được yêu thương nhưng thiếu nhất quán (lúc được lúc không) sẽ hình thành kiểu gắn bó này.

Những đứa trẻ có kiểu gắn bó né tránh lại hành động như không có gì xảy ra khi mẹ rời khỏi phòng. Khi mẹ trở lại, bé vẫn không bị lay chuyển, mặc kệ sự hiện diện của mẹ và tiếp tục chơi một cách bình thường. Nhưng lớp vỏ bọc này không nói lên toàn bộ câu chuyện. Trong thực tế, bên trong em bé không hề bình tĩnh hay kiểm soát tốt. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng những đứa bé này có nhịp tim thực sự cao ngang ngửa với những đứa trẻ khác bộc lộ sự lo lắng nhiều. Nồng độ cortisol – một loại hooc môn gây căng thẳng của chúng khá cao (Levine & Heller, 2020). Kiểu gắn bó này hình thành ở những đứa trẻ gặp phải sự lạnh nhạt, xa cách, thờ ơ hoặc thiếu hẳn bóng dáng của cha mẹ.

Về sau này, các nhà nghiên cứu bổ sung thêm một kiểu gắn bó thứ tư,ít phổ biến hơn là kiểu gắn bó hỗn loạn– disorganized (có tài liệu gọi là sợ hãi-fearful), là sự kết hợp giữa lo âu và né tránh. Kiểu này là tập hợp những điều tồi tệ nhất của hai kiểu kể trên.

Lý thuyết gắn bó ở người lớn

Mặc dù Bowlby chủ yếu tập trung vào việc tìm hiểu bản chất của mối quan hệ cha mẹ và trẻ sơ sinh, nhưng ông tin rằng sự gắn bó đặc trưng cho con người trong suốt cuộc đời. Tuy nhiên, cho đến giữa những năm 1980, các nhà nghiên cứu mới bắt đầu nghiêm túc xem xét khả năng các quá trình gắn bó có thể diễn ra ở tuổi trưởng thành. Kết quả nghiên cứu lần đầu tiên được Cindy Hazan và Phillip Shaver (1987) cho thấy người lớn thể hiện những kiểu gắn bó với đối tác của mình giống những kiểu gắn bó của con cái với cha mẹ. Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng ba “phong cách/cách thức gắn bó” mà người lớn nhận thức và phản ứng với sự thân mật trong các mối quan hệ yêu đương tương tự với những cách thức gắn bó được tìm thấy ở trẻ con là an toàn, lo âu và né tránh.

Giả thuyết thường thấy là kiểu gắn bó hiện tại của chúng ta là do cách ta được chăm sóc, nuôi dưỡng khi còn nhỏ quyết định. Nếu cha mẹ chúng ta nhạy cảm, luôn ở bên cạnh và quan tâm, ta có kiểu gắn bó an toàn. Nếu họ quan tâm không thường xuyên, lúc có lúc không, ta phát triển gắn bó lo âu, và nếu họ xa cách, cứng nhắc, thờ ơ ta phát triển kiểu gắn bó né tránh. Tuy nhiên, kết luận này chỉ đúng một phần. Bởi vì, trong suốt quá trình lớn lên, chúng ta bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác. Ngoài yếu tố là cách nuôi dạy của cha mẹ còn có kiểu khí chất bẩm sinh của chúng ta, môi trường xã hội, giáo dục và những trải nghiệm của chúng ta nữa. Thường thì kiểu gắn bó của mỗi người sẽ ổn định trong thời gian dài nhưng chúng có thể thay đổi. Trung bình có khoảng 70-75% người trưởng thành vẫn nhất quán trong cùng một kiểu gắn bó tại các thời điểm khác nhau trong cuộc sống của họ, trong khi 25-30% dân số còn lại có sự thay đổi kiểu gắn bó của họ. Một người lúc nhỏ có kiểu gắn bó an toàn nhưng có thể sẽ chuyển sang gắn bó lo âu hoặc né tránh nếu như họ gặp phải những trải nghiệm tiêu cực trong quá trình lớn lên ví dụ như bị bỏ rơi, lừa tình,… Ngược lại người có kiểu gắn bó lo âu, né tránh cũng có thể dần trở nên an toàn.

Các kiểu gắn bó ở người lớn

Theo Dr. Amir Levine và Rachel S.F.Heller tác giả cuốn sách gắn bó yêu thương thì về cơ bản người có kiểu gắn bó an toàn cảm thấy thoải mái với sự thân mật và thường là người ấm áp và tràn đầy yêu thương. Người có kiểu gắn bó lo âu cũng khao khát sự thân mật nhưng thường suy nghĩ quá nhiều về các mối quan hệ của họ và có xu hướng lo lắng về khả năng đáp ứng sự yêu thương của đối tác. Người có kiểu gắn bó né tránh thì coi sự thân mật là mất sự độc lập và luôn cố gắng giảm thiểu sự gần gũi. Biệu hiện cụ thể của từng kiểu như sau:

* Kiểu gắn bó an toàn

– Bạn thích được yêu thương, thân mật mà không quá lo lắng về các mối quan hệ của mình.

– Bạn bình tĩnh xử lý mọi vấn đề liên quan đến tình cảm và không dễ dàng buồn bã về các vấn đề của mối quan hệ.

– Bạn truyền đạt hiệu quả nhu cầu và cảm xúc của mình với đối tác và nhạy cảm với tín hiệu cảm xúc của đối tác và phản hồi lại họ.

– Bạn chia sẻ những thành công và những khó khăn của mình với đối tác và có thể có mặt khi người đó cần.

* Kiểu gắn bó lo âu

– Giống như kiểu an toàn, bạn cũng thích được gần gũi với đối tác của mình và có khả năng thân mật tuyệt vời. Tuy nhiên, bạn thường lo sợ đối tác của bạn không muốn gần gũi như bạn muốn.

– Các mối quan hệ thân mật có xu hướng tiêu thụ một phần lớn năng lượng của bạn. Bạn nhạy cảm với những biến động nhỏ trong tâm trạng và hành động của đối tác.

– Bạn trải qua rất nhiều cảm xúc tiêu cực và rất dễ dàng buồn bã trong mối quan hệ. Kết quả là bạn có xu hướng cư xử không tốt, làm quá lên và nói những điều mà sau này bạn hối hận.

* Kiểu gắn bó né tránh

– Bạn đề cao sự độc lập, tự túc và thường thích tự chủ trong các mối quan hệ thân mật. Mặc dù bạn muốn gần gũi với người khác, nhưng bạn lại cảm thấy không thoải mái với sự gần gũi quá nhiều và có xu hướng giữ khoảng cách với đối tác của mình.

– Bạn không dành nhiều thời gian để lo lắng về các mối quan hệ yêu đương của mình hoặc về việc bị bỏ rơi.

– Bạn có xu hướng không cởi mở với các đối tác của mình và họ thường phàn nàn rằng bạn xa cách về mặt cảm xúc.

– Trong các mối quan hệ, bạn thường xuyên cảnh giác cao đối với bất kì dấu hiệu kiểm soát hoặc xâm phạm lãnh thổ nào của đối tác của bạn.

Xác định kiểu gắn bó của bạn

Đọc đến đây có thể bạn đã hình dung mình thuộc kiểu gắn bó nào hoặc chưa. Nếu chưa, bạn có thể tự hỏi mình hai câu hỏi sau:

– Mức độ bạn né tránh sự thân mật (hoặc sự thoải mái của bạn với sự thân mật, gần gũi) trong mối quan hệ  cao hay thấp.

– Mức độ lo lắng của bạn về tình yêu và sự quan tâm của đối tác của mình và về mối bận tâm của bạn với mối quan hệ cao hay thấp.

Mức độ né tránh sự thân mật và mức độ lo lắng về đối tác chính là hai khía cạnh tạo nên các kiểu gắn bó. Sau khi tự trả lời xong, bạn hãy dựa vào bảng dưới đây để xem mình thuộc kiểu gắn bó nào. Bạn cũng có thể dựa vào bảng này để xác định kiểu gắn bó của đối tác.Lý thuyết gắn bó

Nếu bạn vẫn gặp chút khó khăn để xác định kiểu gắn bó của mình, bạn có thể làm trắc nghiệm sau. Trắc nghiệm này có tên là Bảng hỏi trải nghiệm trong mối quan hệ gần gũi (Experiences in Close Relationships scale – ECR) – Kelly Brennan, Catherine Clark, Phillip Shaver (1998). Bạn vào đây để làm trắc nghiệm (đã được dịch ra tiếng Việt) hoặc có thể vào đây để làm trên bản gốc bằng tiếng Anh.

Kiểu gắn bó liên quan gì đến chuyện tình yêu, hôn nhân của bạn

Hiểu biết về các kiểu gắn bó có thể giúp định hình đối tác tương lai mà bạn nên lựa chọn và tiên đoán mức độ hài lòng trong tình yêu, hôn nhân của bạn.

Nếu bạn thuộc kiểu an toàn, bạn có thể kết đôi với cả hai kiểu lo âu và né tránh. Vì bạn đủ thoải mái với bản thân để cho kiểu lo âu sự đảm bảo mà họ cần và cho kiểu né tránh không gian mà họ không cảm thấy bị đe dọa.

Nếu bạn có kiểu gắn bó lo âu thì bạn dễ bị hấp dẫn bởi người né tránh, và ngược lại. Bởi vì, kiểu người né tránh quá giỏi trong việc từ chối người khác nên chỉ có kiểu người lo âu là sẵn sàng níu kéo và cố gắng khiến đối phương mở lòng. Bạn có thể tìm thấy câu chuyện tình “lo âu & né tránh” trong các phim tình cảm và truyện ngôn tình. Hình ảnh chúng ta thường thấy là một anh chàng/cô nàng có tình yêu mãnh liệt, vô bờ bến theo đuổi dai dẳng cô nàng/anh chàng lạnh lùng, khép kín. Sau nhiều lần theo đuổi – chạy chốn, tỏ tình – khước từ… cuối cùng họ cũng đến với nhau và sống hạnh phúc. Tuy nhiên, ở ngoài đời thật, chuyện tình cặp đôi lo âu – né tránh thường nhiều giông bão, đau khổ hơn cả. Người lo âu thì thường xuyên bị dằn vặt, đau khổ và phải chịu đựng sự lạnh lùng, xa cách của đối tác né tránh. Còn người né tránh thì cảm thấy nửa kia quá kiểm soát, nhạy cảm và cực kì phiền phức. Các cuộc cãi vã có xu hướng xảy ra thường xuyên và xen vào đó chỉ là một vài thời điểm lãng mạn.

Vì thế để trở nên an toàn hơn, những người gắn bó lo âu, né tránh nên tìm đến những người có kiểu gắn bó an toàn để kết đôi. Ngoài ra, người lo âu cần hiểu rõ về nhu cầu thân mật, gần gũi cao của mình và học cách nói ra nhu cầu đó mà không kèm theo sự trách móc. Còn người né tránh cũng cần hiểu rõ nhu cầu về khoảng cách, không gian riêng của mình và cho đối phương hiểu rằng tình yêu của bạn không hề thay đổi.

Kiểu gắn bó an toàn có khả năng dự đoán tốt nhất hạnh phúc của một mối quan hệ. Nhiều nghiên cứu cũng chứng mình rằng các cá nhân có kiểu gắn bó an toàn báo cáo mức độ hài lòng cao hon trong các mối quan hệ của họ so với những người có kiểu gắn bó khác. có nhiều khả năng tha thứ cho những sai lầm của đối tác của họ hơn những người khác.

Nghiên cứu của Korosh Mohammadi và đồng nghiệp (2016) về mối quan hệ giữa kiểu gắn bó và mức độ hài lòng trong hôn nhân dựa trên 146 cặp vợ chồng ở Iran cho thấy các cặp đôi có cùng kiểu gắn bó an toàn có mức độ hài lòng trong hôn nhân cao nhất, trong khi mức thấp nhất được quan sát ở các cặp có cùng phong cách gắn bó né tránh. Nghiên cứu cũng chỉ ra không có mối liên hệ rõ ràng giữa kiểu gắn bó an toàn với sự hài lòng trong hôn nhân nhưng lại tìm ra mối liên hệ đáng kể giữa kiểu gắn bó không an toàn và sự không hài lòng trong hôn nhân. Từ đó, có thể kết luận được rằng, kiểu gắn bó an toàn chưa chắc đem lại hạnh phúc trong tình yêu, hôn nhân nhưng nếu bạn có kiểu gắn bó không an toàn thì khả năng cao cuộc tình của bạn sẽ gặp nhiều khó khăn, trắc trở.

Vậy làm thế nào để chuyển từ gắn bó không an toàn sang thành an toàn. Chủ đề này rất hay và tôi cần một bài viết khá dài nữa để làm rõ từng kiểu gắn bó và thảo luận những giải pháp cụ thể nên hẹn bạn ở bài viết tiếp theo.

Tài liệu tham khảo

T.T.M. Đức. (2016). Giáo trình tham vấn tâm lý (2 ed., Vol. 126). NSB ĐH Quốc gia Hà Nội.

Trương Thị Khánh Hà. (2015). Giáo trình tâm lý học phát triển. Hà Nội: NSB ĐH Quốc gia HN.

Levine, A., & Heller, R. S. (2020). Gắn bó yêu thương (1 ed., Vol. 52). NXB Hồng Đức.

Mohammadi, K. (2016, 4). The Relationship Between Attachment Styles and Lifestyle With Marital Satisfaction. Iranian Red Crescent Medical Journal, 4, 18.

Chris Fraley. (2018). Adult Attachment Theory and Research. Retrieved 6 23, 2022 from R. Chris Fraley: http://labs.psychology.illinois.edu/~rcfraley/attachment.htm

Hazan, C., & Shaver, P. (1987). Romantic Love Conceptualized as an Attachment Process. Journal of Personality and Social Psychology, 52, 511-524.

 

CHIA SẺ